9/28/16

Voọc đen

Tên khoa học:   Trachypithecus francoisi (Pousagues,1898)
Synonym: Presbytis francoisi francoisi  Ellerman & Morison, 1951; Trachypithecus francoisi  Fiedler, 1956
Tên khác: voọc đen má trắng (Việt), vượn đen đuôi dài (Tày)
Đặc điểm hình thái: Toàn thân phủ bộ lông đen tuyền, riêng hai bên má có vệt lông màu trắng kéo dài qua tai. Đỉnh đầu có mào lông màu đen, đuôi lông màu đen. Má không có túi, chai mông nhỏ, đuôi thường thon đều, không có vành trắng quanh mắt. Mông và đùi đen.
Kích thước: Dài đầu và thân: 470 - 670mm; Dài đuôi: 740-900mm; Dài chân sau: 152-175mm; Cao tai: 30-45mm ; Trọng lượng: 5,7 - 8,7 kg;  Dài sọ: 92 - 110mm.       
Sinh học, sinh thái: Là loài thích nghi với cuộc sống ở núi đá. Sinh cảnh sồng là rừng kín thường xanh, rừng kín nửa rụng là, rừng trên núi đá vôi. Thức ăn là chồi non, lá cây, hoa quả cây rừng. Mùa sinh sản của voọc đen má trắng thường tập trung vào các tháng từ tháng 3 đến tháng 7. Mỗi lứa đẻ một con, trọng lượng sơ sinh 300-320g. Con non có bộ lông màu vàng . Đẻ xong con mẹ thường theo đàn đi kiếm ăn để lại con non một mình nên con non thường bị các loài thú dữ ăn thịt. Con non khoảng hai tháng tuổi có thể ôm ngang ngực mẹ để đi kiếm ăn.
Voọc đen - Trachypithecus francoisi (Pousagues,1898)
Loài hoạt động ban ngày, trên cây và trên đất hoặc đá. Chúng thường hoạt động tích cực vào khoảng từ 7-10 giờ sáng và từ 3-4giờ chiều. Cấu trúc đàn là nhiều đực, nhiều cái và có con đực là đầu đàn. Số lượng cá thể trong đàn 3-15. Sống trong các sinh cảnh rừng nguyên sinh, thứ sinh chủ yếu trên các khu vực núi đá.
Chỗ ngủ của voọc đen là các hang trên vách đá cao, dựng đứng. Nếu có động chúng có thể di chuyển tới nơi ngủ mới. ở những nơi không có hang đá chúng thường chọn những cây cao, to để ngủ. Chúng chọn những chỗ ngủ như vậy nhằm tránh sự săn bắt của con người và những loài thú ăn thịt lớn khác.
Phân bố:
- Thế giớiNam Trung Quốc, Lào.
- Việt Nam: Miền núi phía Bắc. Voọc đen má trắng ở Việt Nam phân bố chủ yếu ở các tỉnh vùng đông Bắc Việt Nam, tập trung vào các tỉnh giáp biên giới Trung Quốc.
Giá trị sử dụng: Có giá trị khoa học cao.Trước những năm 1980 vùng phân bố của voọc đên má trắng ở hầu hết các tỉnh vùng đông Bắc Việt Nam. Do diện tích rừng bị thu hẹp nhanh chóng và tình trạng săn bắn mạnh nên từ những năm 80 tới nay số lượng quần thể và số lượng cá thể bị giảm sút nhanh chóng. Những vùng trước kia có thẻ còn dễ gặp như Phú Thọ, Sơn La, Thái Nguyên thì ngày nay rất khó gặp và ở một số vùng hầu như không còn dấu vết sống của loài ở ngoài thiên nhiên. Vì vậy tình trạng của loài hiện nay ở Việt Nam là nguy cấp, cần có những biện pháp bảo vệ.
Tình trạng bảo tồn: EN - SĐVN(2007); VU - IUCN(2007); IB – NĐ 32/2006/CP.

0 nhận xét: