10/20/16

Voọc đen tuyền

Tên khoa học:  Trachypithecus ebenus (Brandon-Jones, 1995).
Synonym: Semnopithecus auratus ebenus (Brandon-Jone, 1996), Lai Chau, Vietnam.
Tên khác: Voọc đen tuyền.
Đặc điểm hình thái: Bộ lông màu đen. Lông trên trán dựng đứng ít ngả về sau hơn so với các loài khác trong cùng nhóm. Giữa mào và phần sau không có sự phân chia rõ ràng. Không có xoáy ở sau gáy. Bộ lông đen bóng và trở thành màu nâu hơn ở gốc lông đặc biệt ở phần bụng. Ngọn lông ở má có màu vàng nhạt. Lông trắng nhạt, vàng nhạt nằm rải rác và hoà vào nhau ở cằm, trên môi trên, sống mũi và lòng bàn tay và bàn chân. Đám lông mu (con cái) có màu vàng da cam tới màu trắng nhạt từ giữa sang hai bên và có lông đen xen lẫn.
Kích thước: Dài đầu và thân:  500 - 600mm; Trọng lượng: 5 - 10kg.
Voọc đen tuyền - Trachypithecus ebenus (Brandon-Jones, 1995).
Sinh học, sinh thái: Chưa có nhiều nghiên cứu về sinh học, sinh thái của loài ngoài thiên nhiên. Theo thông tin thức ăn chủ yếu của loài là chồi non , lá cây và quả cây.
Nơi sống của voọc đen tuyền ở những vùng có cây gỗ cao trên đỉnh núi đất, dưới thung lũng và trên núi đá. Nhiều trường hợp thấy chúng sống ở rừng tre nứa.
Phân bố:
- Thế giới: Lào.
- Việt Nam: Quảng Bình (Minh Hoá, Tuyên Hoá, VQG Phong Nha-Kẻ Bàng).
Giá trị sử dụng: Loài quí hiếm, có giá trị khoa học cao.Voọc đen tuyền Trachypithecus ebenus được các nhà nghiên cứu quan sát thấy ở khu vực rừng Phong Nha-Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình vào năm 1998 (Nguyễn Xuân Đặng, 1998) mà từ trước dến nay chưa có ghi nhận nào về sự tồn tại của loài ở khu vực này. Tuy nhiên các nhà khoa học lại không thu được mẫu của loài.
Brandon-Jones (1995) cho rằng dạng voọc này có nguồn gốc từ khu vực vùng núi cao Phan Si Phăng ở phía Bắc Việt Nam và là phân loài mới của loài (Semnopithecus auratus clenus). Đầu năm 1998 Tilo Nadler trên cơ sở mẫu thu được của một khách du lịch từ Lào mang về cũng cho rằng loài voọc đen tuyền này thuộc phân loài của nhóm voọc đen francoisi và đã hiệu chỉnh tên khoa học của loài này là Trachypithecus francoisi ebenus.
Brandon-Jones et. al. (2004) đã xếp loài voọc đen tuyển T.f.ebenus (Brandon-Jones, 1995) ở mức độ phân loài. Tuy nhiên Groves (2005) cho voọc đen tuyền ở Việt Nam là một loài riêng biệt. Căn cứ vào cây phát sinh chủng loại và những đặc điểm hình thái của loài có thể coi đây là một loài riêng biệt. Tuy nhiên cần có thêm những nghiên cứu sâu hơn về mặt di truyền để khẳng định.
Loài voọc đen tuyền này cũng được các nhà khoa học quan sát thấy vào năm 1995 ở khu BTTN Đa dạng sinh học quốc gia Hin Nam No, Lào giáp với biên giới Việt Nam (Ruggierri et.al., 1995).
Như vậy tình trạng của loài mới phát hiện lại này chắc chắn là nguy cấp vì ít gặp trong những đợt nghiên cứu và vùng phân bố là hẹp tuy ở hai quốc gia là Việt Nam và Lào. Cần có biện pháp bảo vệ nghiêm và sớm đưa tên loài nay vào Sách Đỏ Việt Nam.

Tình trạng bảo tồn: VU - IUCN(2007); IB – NĐ 32/2006/CP.
Xem thêm: Voọc mông trắngVoọc gáy trắngVoọc đầu trắng

0 nhận xét: