12/4/16

Voọc mũi hếch

Tên khoa học: Rhinopithecus avunculus (Dollman, 1912)
Tên khác: Voọc mũi hếch, vẹc bông lau (Việt)
Đặc điểm hình thái: Voọc mũi hếch là loài thú lớn có thân hình mỏng manh, giới tính được phân biệt rõ và là loài sống trên cây. Con đực trưởng thành cân nặng trung bình khoảng 14 kg, chiều dài đầu và thân khoảng 65cm và dài đuôi khoảng 83 cm; trong khi đó con cái trưởng thành có trọng lượng trung bình khoảng 8,5kg và dài đầu và thân khoảng 54 cm và dài đuôi khoảng 68 cm. Cả đực và cái trưởng thành đều có mũi hếch ngược gần tới trán. Những ngón chân và tay đều dài hơn so với những loài khác trong giống Rhinopithecus.
Cả con đực và cái voọc mũi hếch trưởng thành  đều có tay và chân màu đen; lông ở trên lưng và phía ngoài các chi  màu đen; và lông màu kem trắng ở phía trong các chi, ngoài bắp đùi, khuỷu, trán và mặt. Đuôi dài, ở gốc đuôi màu đen, phần ngọn đuôi màu kem trắng, và cuối cùng là một túm lông màu kem trắng. ở phần cổ họng có vết lông màu da cam, da ở mặt không có lông và xung quanh mắt và mũi có vệt lông màu xanh xám, và xung quanh mồm có mà xanh đen. Vết lông màu vàng cam ở họng và màu xanh đen ở quanh miệng thẫm hơn ở con đực trưởng thành ( con đực có dương vật màu đen và bùi dái màu trắng. Những con sắp trưởng thành thường có bộ lông màu xám hơn là màu đen. Những quan sát gần đây nhất cho thấy những con non có màu trắng xám (K.D. Vu, pers. comm., 2005) hay mà vàng nhạt (Q.K. Le, pers. comm., 2005). Qua đó có thể thấy rằng con non sinh ra có lông màu trắng sau đó chuyển sang màu vàng nhạt và trở thành màu xám ở con non và con sắp trưởng thành.
Ngược lại, Nadler et al. (2003) viết rằng voọc mũi hếch có màu nâu xẫm ở phía lưng mà không phải màu đen, cho rằng khả năng có sự biến đổi giữa các quần thể. Tuy nhiên , không có tác giả nào trong đó đã nhìn thấy voọc mũi hếch  ở ngoài thiên nhiên, như vậy khả năng những mô tả dựa vào mẫu vật trong bảo tàng.
Bộ lông màu nâu đen. Lông trên đầu và quanh mặt màu trắng nhạt. Không có mào lông trên đỉnh đầu. vùng bụng, mắt, chi trước và chi sau có màu trắng nhờ. Mảng lông trắng này kéo chùm ra phía bên ngoài khuỷ tay. đuôi dài hơn thân, lông xù. Voọc con mới đẻ lông màu vàng nhạt. Khi lớn chuyển màu như voọc trưởng thành.
Kích thước: Dài đầu và thân 510 - 620mm; Dài đuôi: 760 - 930mm; Dài chân sau: 150 - 180mm; Cao tai: 35 - 43mm; Dài sọ: 98 - 120mm; Trọng lượng: 8,5 - 14kg.
Voọc mũi hếch - Rhinopithecus avunculus (Dollman, 1912)
Sinh học, sinh thái: Voọc mũi hếch có chửa vào tháng 11-12. Từ tháng 3-6 thường thấy con cái mang con non trước ngực. Thức ăn chủ yếu là chồi non, lá cây và quả cây. Quả 4,7%, lá non 38%, hạt 15% , khoảng 52 cây dùng làm thức ăn cho loài. Voọc mũi hếch sống ở rừng nhiệt đới thường xanh ở khu vực núi đá vôi. Voọc mũi hếch  là loài động vật có khu vực sống rộng, các nhóm khác nhau có khu vực di chuyển khác nhau nhưng cũng có khả năng trùng nhau. Trước hết cho rằng nguồn thức ăn phân bố rộng, thứ hai là gián tiếp hình thành nên khả năng kết hợp của các nhóm riêng lẻ thành nhóm hỗn hợp và không có sự đấu tranh vì nguồn thức ăn;
Cấu trúc xã hội của loài Voọc mũi hếch được thể hiện rất mềm dẻo và bao gồm nhóm một đực và nhóm toàn đực với những nhóm khác nhau và thường xuyên gặp nhau ở mức độ cấu trúc xã hội thứ sinh – gọi là toán hay tốp, với sự xáo trộn giữa nhóm một đực và những nhóm trong tốp. Điêù đó khác với báo cáo trước đây là nhóm nhiều đực nhiều cái.
Loài Voọc mũi hếch là loài sống leo trèo, di chuyển bằng tứ chi: đi, leo trèo và chuyển. Sự chuyển động được thực hiện bằng cách treo mình trên cây và quăng từ cành nọ sang cành kia, và thỉnh thoảng dùng cánh tay chuyền từ cành nọ sang cành kia.
Bốn dạng tiếng kêu đã được phân biệt đối với loài Voọc mũi hếch: kêu nhỏ “hu-hu”, kêu nhỏ “hu chực”, kêu to và nhanh “hu chực” và kêu nhanh “chit”. Kêu nhỏ “hu-hu” thường được nghe thấy khi các nhóm tập hợp lại sau khi tách ra vì bị một tác động nào đó.
Voọc mũi hếch không chỉ ăn lá cây mà bao gồm cả quả và hạt. Những quan sát ban đầu cho thấy VMH là loài ăn có chọn lọc, thường chúng ăn một phần của lá, quả xanh, và hạt và quả xanh
Phân bố: hiện nay cho rằng loài này hiện có mặt tại Hà Giang, Tuyên Quang, và Bắc Kạn, và có thể ở cả Thái Nguyên.
Giá trị sử dụng: Loài đặc hữu nên có giá trị khoa học cao.
Tình trạng: CR- SĐVN (2007); CR - IUCN (2007); IB – NĐ 32/2006/NĐ-CP.
Những đe doạ hiện tại mà Voọc mũi hếch gặp phải trên toàn bộ khu vực phân bố là sự xâm nhập của con người và có thể là những hoạt động săn bắt trực tiếp hoặc không trực tiếp. Thay đổi của khu vực sống, và sự chia cắt thành những khu vực sống nhỏ hơn. Những hoạt động trước đây bao gồm sự xâm nhập mạnh mẽ của con người tới khu vực sống, khai thác không bền vững , khai thác vàng, du canh, du cư và những hoạt động sử dụng đất khác nhau. Sự phát triển của chương trình đập thuỷ điện của Tổng Công ty Điện lực Việt Nam cũng ảnh hưởng lớn tới khả năng phát triển của loài.
Tình trạng bảo tồn: Ở Việt Nam, loài VMH nằm trong danh sách các loài cực kỳ nguy cấp trong Sách Đỏ Việt Nam (2007), và nằm trong Phụ lục I Nghị Định 32/2006. Để bảo vệ loài này và khu vực sống của chúng các khu bảo tồn thiên nhiên sau đây đã được thành lập:
Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang; Khu Bảo tồn thiên nhiên Du Già; Khu bảo tồn thiên nhiên Cham Chu.
Xem thêm: Voọc đen tuyền
                   Voọc đầu trắng

0 nhận xét: